< Lu-ca 10 >

1 Sau đó, Chúa chọn thêm bảy mươi hai môn đệ, sai từng đôi đi trước đến các thành phố làng mạc, là những nơi Ngài định viếng thăm.
ତତଃ ପରଂ ପ୍ରଭୁରପରାନ୍ ସପ୍ତତିଶିଷ୍ୟାନ୍ ନିଯୁଜ୍ୟ ସ୍ୱଯଂ ଯାନି ନଗରାଣି ଯାନି ସ୍ଥାନାନି ଚ ଗମିଷ୍ୟତି ତାନି ନଗରାଣି ତାନି ସ୍ଥାନାନି ଚ ପ୍ରତି ଦ୍ୱୌ ଦ୍ୱୌ ଜନୌ ପ୍ରହିତୱାନ୍|
2 Ngài phán bảo họ: “Mùa gặt thật trúng, nhưng thợ gặt còn ít. Các con hãy cầu xin Chủ mùa gặt đưa thêm nhiều thợ gặt vào đồng lúa của Ngài.
ତେଭ୍ୟଃ କଥଯାମାସ ଚ ଶସ୍ୟାନି ବହୂନୀତି ସତ୍ୟଂ କିନ୍ତୁ ଛେଦକା ଅଲ୍ପେ; ତସ୍ମାଦ୍ଧେତୋଃ ଶସ୍ୟକ୍ଷେତ୍ରେ ଛେଦକାନ୍ ଅପରାନପି ପ୍ରେଷଯିତୁଂ କ୍ଷେତ୍ରସ୍ୱାମିନଂ ପ୍ରାର୍ଥଯଧ୍ୱଂ|
3 Sửa soạn lên đường! Ta sai các con ra đi như chiên vào giữa bầy muông sói.
ଯୂଯଂ ଯାତ, ପଶ୍ୟତ, ୱୃକାଣାଂ ମଧ୍ୟେ ମେଷଶାୱକାନିୱ ଯୁଷ୍ମାନ୍ ପ୍ରହିଣୋମି|
4 Đừng đem theo tiền bạc, túi bao, hay giày dép. Đừng dừng lại chào hỏi ai dọc đường.
ଯୂଯଂ କ୍ଷୁଦ୍ରଂ ମହଦ୍ ୱା ୱସନସମ୍ପୁଟକଂ ପାଦୁକାଶ୍ଚ ମା ଗୃହ୍ଲୀତ, ମାର୍ଗମଧ୍ୟେ କମପି ମା ନମତ ଚ|
5 Khi vào nhà nào, các con cầu phước cho nhà đó.
ଅପରଞ୍ଚ ଯୂଯଂ ଯଦ୍ ଯତ୍ ନିୱେଶନଂ ପ୍ରୱିଶଥ ତତ୍ର ନିୱେଶନସ୍ୟାସ୍ୟ ମଙ୍ଗଲଂ ଭୂଯାଦିତି ୱାକ୍ୟଂ ପ୍ରଥମଂ ୱଦତ|
6 Nếu nhà ấy xứng đáng, họ sẽ được phước lành. Nếu không, phước lành sẽ trở về với các con.
ତସ୍ମାତ୍ ତସ୍ମିନ୍ ନିୱେଶନେ ଯଦି ମଙ୍ଗଲପାତ୍ରଂ ସ୍ଥାସ୍ୟତି ତର୍ହି ତନ୍ମଙ୍ଗଲଂ ତସ୍ୟ ଭୱିଷ୍ୟତି, ନୋଚେତ୍ ଯୁଷ୍ମାନ୍ ପ୍ରତି ପରାୱର୍ତ୍ତିଷ୍ୟତେ|
7 Khi vào thành nào, cứ ở trong một nhà, đừng bỏ nhà này sang nhà khác. Khi người ta mời, các con cứ ăn uống, vì người làm việc xứng đáng được tiếp đãi.
ଅପରଞ୍ଚ ତେ ଯତ୍କିଞ୍ଚିଦ୍ ଦାସ୍ୟନ୍ତି ତଦେୱ ଭୁକ୍ତ୍ୱା ପୀତ୍ୱା ତସ୍ମିନ୍ନିୱେଶନେ ସ୍ଥାସ୍ୟଥ; ଯତଃ କର୍ମ୍ମକାରୀ ଜନୋ ଭୃତିମ୍ ଅର୍ହତି; ଗୃହାଦ୍ ଗୃହଂ ମା ଯାସ୍ୟଥ|
8 Nếu thành nào tiếp rước và dọn thức ăn, các con cứ ăn.
ଅନ୍ୟଚ୍ଚ ଯୁଷ୍ମାସୁ କିମପି ନଗରଂ ପ୍ରୱିଷ୍ଟେଷୁ ଲୋକା ଯଦି ଯୁଷ୍ମାକମ୍ ଆତିଥ୍ୟଂ କରିଷ୍ୟନ୍ତି, ତର୍ହି ଯତ୍ ଖାଦ୍ୟମ୍ ଉପସ୍ଥାସ୍ୟନ୍ତି ତଦେୱ ଖାଦିଷ୍ୟଥ|
9 Các con chữa lành người bệnh, và báo cho họ biết: ‘Nước của Đức Chúa Trời gần đến.’
ତନ୍ନଗରସ୍ଥାନ୍ ରୋଗିଣଃ ସ୍ୱସ୍ଥାନ୍ କରିଷ୍ୟଥ, ଈଶ୍ୱରୀଯଂ ରାଜ୍ୟଂ ଯୁଷ୍ମାକମ୍ ଅନ୍ତିକମ୍ ଆଗମତ୍ କଥାମେତାଞ୍ଚ ପ୍ରଚାରଯିଷ୍ୟଥ|
10 Nếu thành nào từ chối không tiếp rước, các con phải cảnh cáo:
କିନ୍ତୁ କିମପି ପୁରଂ ଯୁଷ୍ମାସୁ ପ୍ରୱିଷ୍ଟେଷୁ ଲୋକା ଯଦି ଯୁଷ୍ମାକମ୍ ଆତିଥ୍ୟଂ ନ କରିଷ୍ୟନ୍ତି, ତର୍ହି ତସ୍ୟ ନଗରସ୍ୟ ପନ୍ଥାନଂ ଗତ୍ୱା କଥାମେତାଂ ୱଦିଷ୍ୟଥ,
11 ‘Chúng tôi giũ áo ra đi, không còn chịu trách nhiệm về thành này nữa. Nhưng đừng quên Nước của Đức Chúa Trời gần đến!’
ଯୁଷ୍ମାକଂ ନଗରୀଯା ଯା ଧୂଲ୍ୟୋଽସ୍ମାସୁ ସମଲଗନ୍ ତା ଅପି ଯୁଷ୍ମାକଂ ପ୍ରାତିକୂଲ୍ୟେନ ସାକ୍ଷ୍ୟାର୍ଥଂ ସମ୍ପାତଯାମଃ; ତଥାପୀଶ୍ୱରରାଜ୍ୟଂ ଯୁଷ୍ମାକଂ ସମୀପମ୍ ଆଗତମ୍ ଇତି ନିଶ୍ଚିତଂ ଜାନୀତ|
12 Ta quả quyết, đến ngày phán xét, thành phố gian ác như Sô-đôm còn có thể dung thứ hơn thành ấy.
ଅହଂ ଯୁଷ୍ମଭ୍ୟଂ ଯଥାର୍ଥଂ କଥଯାମି, ୱିଚାରଦିନେ ତସ୍ୟ ନଗରସ୍ୟ ଦଶାତଃ ସିଦୋମୋ ଦଶା ସହ୍ୟା ଭୱିଷ୍ୟତି|
13 Khốn cho thành Cô-ra-xin, khốn cho thành Bết-sai-đa! Vì nếu các phép lạ Ta làm nơi đây được thực hiện tại thành Ty-rơ và Si-đôn, dân hai thành ấy hẳn đã mặc áo gai, rải tro lên đầu tỏ lòng ăn năn từ lâu rồi!
ହା ହା କୋରାସୀନ୍ ନଗର, ହା ହା ବୈତ୍ସୈଦାନଗର ଯୁୱଯୋର୍ମଧ୍ୟେ ଯାଦୃଶାନି ଆଶ୍ଚର୍ୟ୍ୟାଣି କର୍ମ୍ମାଣ୍ୟକ୍ରିଯନ୍ତ, ତାନି କର୍ମ୍ମାଣି ଯଦି ସୋରସୀଦୋନୋ ର୍ନଗରଯୋରକାରିଷ୍ୟନ୍ତ, ତଦା ଇତୋ ବହୁଦିନପୂର୍ୱ୍ୱଂ ତନ୍ନିୱାସିନଃ ଶଣୱସ୍ତ୍ରାଣି ପରିଧାଯ ଗାତ୍ରେଷୁ ଭସ୍ମ ୱିଲିପ୍ୟ ସମୁପୱିଶ୍ୟ ସମଖେତ୍ସ୍ୟନ୍ତ|
14 Đến ngày phán xét, Ty-rơ và Si-đôn còn đáng được dung thứ hơn Cô-ra-xin và Bết-sai-đa.
ଅତୋ ୱିଚାରଦିୱସେ ଯୁଷ୍ମାକଂ ଦଶାତଃ ସୋରସୀଦୋନ୍ନିୱାସିନାଂ ଦଶା ସହ୍ୟା ଭୱିଷ୍ୟତି|
15 Còn thành Ca-bê-na-um được đem lên tận trời sao?—Không, nó sẽ bị ném xuống cõi chết.” (Hadēs g86)
ହେ କଫର୍ନାହୂମ୍, ତ୍ୱଂ ସ୍ୱର୍ଗଂ ଯାୱଦ୍ ଉନ୍ନତା କିନ୍ତୁ ନରକଂ ଯାୱତ୍ ନ୍ୟଗ୍ଭୱିଷ୍ୟସି| (Hadēs g86)
16 Chúa phán với các môn đệ: “Ai nghe các con là nghe Ta. Ai từ chối các con là từ chối Ta. Và ai từ chối Ta, là từ chối Đức Chúa Trời, Đấng đã sai Ta.”
ଯୋ ଜନୋ ଯୁଷ୍ମାକଂ ୱାକ୍ୟଂ ଗୃହ୍ଲାତି ସ ମମୈୱ ୱାକ୍ୟଂ ଗୃହ୍ଲାତି; କିଞ୍ଚ ଯୋ ଜନୋ ଯୁଷ୍ମାକମ୍ ଅୱଜ୍ଞାଂ କରୋତି ସ ମମୈୱାୱଜ୍ଞାଂ କରୋତି; ଯୋ ଜନୋ ମମାୱଜ୍ଞାଂ କରୋତି ଚ ସ ମତ୍ପ୍ରେରକସ୍ୟୈୱାୱଜ୍ଞାଂ କରୋତି|
17 Bảy mươi hai môn đệ trở về, mừng rỡ báo: “Thưa Chúa, nhờ Danh Chúa, ngay đến các quỷ cũng vâng phục chúng con!”
ଅଥ ତେ ସପ୍ତତିଶିଷ୍ୟା ଆନନ୍ଦେନ ପ୍ରତ୍ୟାଗତ୍ୟ କଥଯାମାସୁଃ, ହେ ପ୍ରଭୋ ଭୱତୋ ନାମ୍ନା ଭୂତା ଅପ୍ୟସ୍ମାକଂ ୱଶୀଭୱନ୍ତି|
18 Chúa đáp: “Ta thấy Sa-tan như tia chớp từ trời sa xuống.
ତଦାନୀଂ ସ ତାନ୍ ଜଗାଦ, ୱିଦ୍ୟୁତମିୱ ସ୍ୱର୍ଗାତ୍ ପତନ୍ତଂ ଶୈତାନମ୍ ଅଦର୍ଶମ୍|
19 Ta cho các con uy quyền để thắng mọi quyền lực thù nghịch, chà đạp rắn rết, bò cạp. Chẳng có gì làm hại các con được.
ପଶ୍ୟତ ସର୍ପାନ୍ ୱୃଶ୍ଚିକାନ୍ ରିପୋଃ ସର୍ୱ୍ୱପରାକ୍ରମାଂଶ୍ଚ ପଦତଲୈ ର୍ଦଲଯିତୁଂ ଯୁଷ୍ମଭ୍ୟଂ ଶକ୍ତିଂ ଦଦାମି ତସ୍ମାଦ୍ ଯୁଷ୍ମାକଂ କାପି ହାନି ର୍ନ ଭୱିଷ୍ୟତି|
20 Tuy nhiên, điều đáng mừng không phải vì quỷ vâng phục các con, nhưng vì tên các con được ghi ở trên trời.”
ଭୂତା ଯୁଷ୍ମାକଂ ୱଶୀଭୱନ୍ତି, ଏତନ୍ନିମିତ୍ତତ୍ ମା ସମୁଲ୍ଲସତ, ସ୍ୱର୍ଗେ ଯୁଷ୍ମାକଂ ନାମାନି ଲିଖିତାନି ସନ୍ତୀତି ନିମିତ୍ତଂ ସମୁଲ୍ଲସତ|
21 Lúc ấy, Chúa Giê-xu tràn ngập niềm vui của Chúa Thánh Linh. Ngài cầu nguyện: “Thưa Cha, Chúa của trời và đất, Con tạ ơn Cha, vì Cha đã giấu kín những điều này đối với người tự cho là khôn ngoan và thông sáng mà bày tỏ cho trẻ con biết. Thưa Cha, việc ấy đã làm Cha hài lòng.
ତଦ୍ଘଟିକାଯାଂ ଯୀଶୁ ର୍ମନସି ଜାତାହ୍ଲାଦଃ କଥଯାମାସ ହେ ସ୍ୱର୍ଗପୃଥିୱ୍ୟୋରେକାଧିପତେ ପିତସ୍ତ୍ୱଂ ଜ୍ଞାନୱତାଂ ୱିଦୁଷାଞ୍ଚ ଲୋକାନାଂ ପୁରସ୍ତାତ୍ ସର୍ୱ୍ୱମେତଦ୍ ଅପ୍ରକାଶ୍ୟ ବାଲକାନାଂ ପୁରସ୍ତାତ୍ ପ୍ରାକାଶଯ ଏତସ୍ମାଦ୍ଧେତୋସ୍ତ୍ୱାଂ ଧନ୍ୟଂ ୱଦାମି, ହେ ପିତରିତ୍ଥଂ ଭୱତୁ ଯଦ୍ ଏତଦେୱ ତୱ ଗୋଚର ଉତ୍ତମମ୍|
22 Cha đã giao hết mọi việc cho Con. Chỉ một mình Cha biết Con cũng chỉ một mình Con—và những người được Con bày tỏ—biết Cha mà thôi.”
ପିତ୍ରା ସର୍ୱ୍ୱାଣି ମଯି ସମର୍ପିତାନି ପିତରଂ ୱିନା କୋପି ପୁତ୍ରଂ ନ ଜାନାତି କିଞ୍ଚ ପୁତ୍ରଂ ୱିନା ଯସ୍ମୈ ଜନାଯ ପୁତ୍ରସ୍ତଂ ପ୍ରକାଶିତୱାନ୍ ତଞ୍ଚ ୱିନା କୋପି ପିତରଂ ନ ଜାନାତି|
23 Chúa quay lại phán riêng với các môn đệ: “Phước cho mắt các con vì thấy được những điều đó.
ତପଃ ପରଂ ସ ଶିଷ୍ୟାନ୍ ପ୍ରତି ପରାୱୃତ୍ୟ ଗୁପ୍ତଂ ଜଗାଦ, ଯୂଯମେତାନି ସର୍ୱ୍ୱାଣି ପଶ୍ୟଥ ତତୋ ଯୁଷ୍ମାକଂ ଚକ୍ଷୂଂଷି ଧନ୍ୟାନି|
24 Có biết bao nhà tiên tri và vua chúa thời xưa ước ao được thấy những việc các con thấy, được nghe những lời các con nghe, mà không được.”
ଯୁଷ୍ମାନହଂ ୱଦାମି, ଯୂଯଂ ଯାନି ସର୍ୱ୍ୱାଣି ପଶ୍ୟଥ ତାନି ବହୱୋ ଭୱିଷ୍ୟଦ୍ୱାଦିନୋ ଭୂପତଯଶ୍ଚ ଦ୍ରଷ୍ଟୁମିଚ୍ଛନ୍ତୋପି ଦ୍ରଷ୍ଟୁଂ ନ ପ୍ରାପ୍ନୁୱନ୍, ଯୁଷ୍ମାଭି ର୍ୟା ଯାଃ କଥାଶ୍ଚ ଶ୍ରୂଯନ୍ତେ ତାଃ ଶ୍ରୋତୁମିଚ୍ଛନ୍ତୋପି ଶ୍ରୋତୁଂ ନାଲଭନ୍ତ|
25 Một thầy dạy luật muốn thử Chúa Giê-xu đứng lên hỏi: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống vĩnh cửu?” (aiōnios g166)
ଅନନ୍ତରମ୍ ଏକୋ ୱ୍ୟୱସ୍ଥାପକ ଉତ୍ଥାଯ ତଂ ପରୀକ୍ଷିତୁଂ ପପ୍ରଚ୍ଛ, ହେ ଉପଦେଶକ ଅନନ୍ତାଯୁଷଃ ପ୍ରାପ୍ତଯେ ମଯା କିଂ କରଣୀଯଂ? (aiōnios g166)
26 Chúa Giê-xu hỏi lại: “Luật pháp Môi-se dạy điều gì? Ông đã đọc thế nào về điều đó?”
ଯୀଶୁଃ ପ୍ରତ୍ୟୁୱାଚ, ଅତ୍ରାର୍ଥେ ୱ୍ୟୱସ୍ଥାଯାଂ କିଂ ଲିଖିତମସ୍ତି? ତ୍ୱଂ କୀଦୃକ୍ ପଠସି?
27 Thầy dạy luật đáp: “Phải yêu thương Chúa Hằng Hữu, là Đức Chúa Trời ngươi với cả tấm lòng, linh hồn, năng lực, và trí óc. Và yêu người lân cận như chính mình.”
ତତଃ ସୋୱଦତ୍, ତ୍ୱଂ ସର୍ୱ୍ୱାନ୍ତଃକରଣୈଃ ସର୍ୱ୍ୱପ୍ରାଣୈଃ ସର୍ୱ୍ୱଶକ୍ତିଭିଃ ସର୍ୱ୍ୱଚିତ୍ତୈଶ୍ଚ ପ୍ରଭୌ ପରମେଶ୍ୱରେ ପ୍ରେମ କୁରୁ, ସମୀପୱାସିନି ସ୍ୱୱତ୍ ପ୍ରେମ କୁରୁ ଚ|
28 Chúa Giê-xu dạy: “Đúng! Cứ làm theo đó, ông sẽ được sống!”
ତଦା ସ କଥଯାମାସ, ତ୍ୱଂ ଯଥାର୍ଥଂ ପ୍ରତ୍ୟୱୋଚଃ, ଇତ୍ଥମ୍ ଆଚର ତେନୈୱ ଜୀୱିଷ୍ୟସି|
29 Nhưng thầy dạy luật muốn biện hộ là người công chính, nên hỏi lại Chúa Giê-xu: “Ai là người lân cận tôi?”
କିନ୍ତୁ ସ ଜନଃ ସ୍ୱଂ ନିର୍ଦ୍ଦୋଷଂ ଜ୍ଞାପଯିତୁଂ ଯୀଶୁଂ ପପ୍ରଚ୍ଛ, ମମ ସମୀପୱାସୀ କଃ? ତତୋ ଯୀଶୁଃ ପ୍ରତ୍ୟୁୱାଚ,
30 Để trả lời, Chúa Giê-xu kể câu chuyện này: “Một người Do Thái đi từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-cô, giữa đường bị cướp. Chúng lột hết quần áo, tiền bạc, đánh đập tàn nhẫn rồi bỏ nằm dở sống dở chết bên vệ đường.
ଏକୋ ଜନୋ ଯିରୂଶାଲମ୍ପୁରାଦ୍ ଯିରୀହୋପୁରଂ ଯାତି, ଏତର୍ହି ଦସ୍ୟୂନାଂ କରେଷୁ ପତିତେ ତେ ତସ୍ୟ ୱସ୍ତ୍ରାଦିକଂ ହୃତୱନ୍ତଃ ତମାହତ୍ୟ ମୃତପ୍ରାଯଂ କୃତ୍ୱା ତ୍ୟକ୍ତ୍ୱା ଯଯୁଃ|
31 Tình cờ, một thầy tế lễ đi ngang qua, thấy nạn nhân liền tránh sang bên kia đường, rồi đi luôn.
ଅକସ୍ମାଦ୍ ଏକୋ ଯାଜକସ୍ତେନ ମାର୍ଗେଣ ଗଚ୍ଛନ୍ ତଂ ଦୃଷ୍ଟ୍ୱା ମାର୍ଗାନ୍ୟପାର୍ଶ୍ୱେନ ଜଗାମ|
32 Một người Lê-vi đi qua trông thấy, cũng bỏ đi.
ଇତ୍ଥମ୍ ଏକୋ ଲେୱୀଯସ୍ତତ୍ସ୍ଥାନଂ ପ୍ରାପ୍ୟ ତସ୍ୟାନ୍ତିକଂ ଗତ୍ୱା ତଂ ୱିଲୋକ୍ୟାନ୍ୟେନ ପାର୍ଶ୍ୱେନ ଜଗାମ|
33 Đến lượt người Sa-ma-ri qua đường nhìn thấy nạn nhân thì động lòng thương xót,
କିନ୍ତ୍ୱେକଃ ଶୋମିରୋଣୀଯୋ ଗଚ୍ଛନ୍ ତତ୍ସ୍ଥାନଂ ପ୍ରାପ୍ୟ ତଂ ଦୃଷ୍ଟ୍ୱାଦଯତ|
34 nên lại gần, lấy dầu ô-liu và rượu thoa vết thương và băng bó lại, rồi đỡ nạn nhân lên lưng lừa mình, chở đến quán trọ chăm sóc.
ତସ୍ୟାନ୍ତିକଂ ଗତ୍ୱା ତସ୍ୟ କ୍ଷତେଷୁ ତୈଲଂ ଦ୍ରାକ୍ଷାରସଞ୍ଚ ପ୍ରକ୍ଷିପ୍ୟ କ୍ଷତାନି ବଦ୍ଧ୍ୱା ନିଜୱାହନୋପରି ତମୁପୱେଶ୍ୟ ପ୍ରୱାସୀଯଗୃହମ୍ ଆନୀଯ ତଂ ସିଷେୱେ|
35 Hôm sau, người ấy trao cho chủ quán một số tiền bảo săn sóc nạn nhân và dặn: ‘Nếu còn thiếu, khi trở về tôi sẽ trả thêm.’”
ପରସ୍ମିନ୍ ଦିୱସେ ନିଜଗମନକାଲେ ଦ୍ୱୌ ମୁଦ୍ରାପାଦୌ ତଦ୍ଗୃହସ୍ୱାମିନେ ଦତ୍ତ୍ୱାୱଦତ୍ ଜନମେନଂ ସେୱସ୍ୱ ତତ୍ର ଯୋଽଧିକୋ ୱ୍ୟଯୋ ଭୱିଷ୍ୟତି ତମହଂ ପୁନରାଗମନକାଲେ ପରିଶୋତ୍ସ୍ୟାମି|
36 Chúa Giê-xu hỏi: “Vậy, trong ba người đó, ai là người lân cận với người bị cướp?”
ଏଷାଂ ତ୍ରଯାଣାଂ ମଧ୍ୟେ ତସ୍ୟ ଦସ୍ୟୁହସ୍ତପତିତସ୍ୟ ଜନସ୍ୟ ସମୀପୱାସୀ କଃ? ତ୍ୱଯା କିଂ ବୁଧ୍ୟତେ?
37 Thầy dạy luật đáp: “Người đã bày tỏ lòng nhân từ của mình.” Chúa Giê-xu dạy: “Hãy đi và làm đúng như vậy.”
ତତଃ ସ ୱ୍ୟୱସ୍ଥାପକଃ କଥଯାମାସ ଯସ୍ତସ୍ମିନ୍ ଦଯାଂ ଚକାର| ତଦା ଯୀଶୁଃ କଥଯାମାସ ତ୍ୱମପି ଗତ୍ୱା ତଥାଚର|
38 Chúa Giê-xu và các môn đệ trên đường lên Giê-ru-sa-lem, họ đi đường đến một làng kia, có một phụ nữ tên Ma-thê rước Chúa vào nhà.
ତତଃ ପରଂ ତେ ଗଚ୍ଛନ୍ତ ଏକଂ ଗ୍ରାମଂ ପ୍ରୱିୱିଶୁଃ; ତଦା ମର୍ଥାନାମା ସ୍ତ୍ରୀ ସ୍ୱଗୃହେ ତସ୍ୟାତିଥ୍ୟଂ ଚକାର|
39 Em cô là Ma-ri ngồi dưới chân Chúa nghe Ngài giảng dạy.
ତସ୍ମାତ୍ ମରିଯମ୍ ନାମଧେଯା ତସ୍ୟା ଭଗିନୀ ଯୀଶୋଃ ପଦସମୀପ ଉୱୱିଶ୍ୟ ତସ୍ୟୋପଦେଶକଥାଂ ଶ୍ରୋତୁମାରେଭେ|
40 Còn Ma-thê bận rộn lo việc tiếp đãi. Một lúc sau, Ma-thê đến với Chúa Giê-xu và phàn nàn: “Chúa không thấy em con ngồi không, để một mình con làm hết mọi việc sao? Xin Chúa bảo nó giúp con.”
କିନ୍ତୁ ମର୍ଥା ନାନାପରିଚର୍ୟ୍ୟାଯାଂ ୱ୍ୟଗ୍ରା ବଭୂୱ ତସ୍ମାଦ୍ଧେତୋସ୍ତସ୍ୟ ସମୀପମାଗତ୍ୟ ବଭାଷେ; ହେ ପ୍ରଭୋ ମମ ଭଗିନୀ କେୱଲଂ ମମୋପରି ସର୍ୱ୍ୱକର୍ମ୍ମଣାଂ ଭାରମ୍ ଅର୍ପିତୱତୀ ତତ୍ର ଭୱତା କିଞ୍ଚିଦପି ନ ମନୋ ନିଧୀଯତେ କିମ୍? ମମ ସାହାଯ୍ୟଂ କର୍ତ୍ତୁଂ ଭୱାନ୍ ତାମାଦିଶତୁ|
41 Nhưng Chúa đáp: “Ma-thê, con bận rộn lo lắng nhiều việc,
ତତୋ ଯୀଶୁଃ ପ୍ରତ୍ୟୁୱାଚ ହେ ମର୍ଥେ ହେ ମର୍ଥେ, ତ୍ୱଂ ନାନାକାର୍ୟ୍ୟେଷୁ ଚିନ୍ତିତୱତୀ ୱ୍ୟଗ୍ରା ଚାସି,
42 nhưng chỉ có một việc cần thiết. Ma-ri đã chọn phần việc ấy nên không ai truất phần của em con được.”
କିନ୍ତୁ ପ୍ରଯୋଜନୀଯମ୍ ଏକମାତ୍ରମ୍ ଆସ୍ତେ| ଅପରଞ୍ଚ ଯମୁତ୍ତମଂ ଭାଗଂ କୋପି ହର୍ତ୍ତୁଂ ନ ଶକ୍ନୋତି ସଏୱ ମରିଯମା ୱୃତଃ|

< Lu-ca 10 >